Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1. Đối tượng của lịch sử tư tưởng là gì?

Theo GS Trần Văn Giàu, trong lịch sử tư tưởng có tư tưởng triết học nhưng ngoài ra còn có nhiều tư tưởng không phải là triết học.

GS Nguyễn Khánh Toàn thì đề xuất gọi là lịch sử ý thức hệ Việt Nam, vì ông cho rằng nếu gọi là lịch sử triết học VN thì quá rộng, còn nếu gọi là lịch sử tưởng Việt Nam thì hơi nặng và miên man.

GS Vũ Khiêu lại khẳng định, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu triết học Việt Nam.

Theo GS Nguyễn Tài Thư thì lịch sử tư tưởng Việt Nam là lịch sử tư tưởng triết học và những tư tưởng có liên quan, quan hệ mật thiết với tư tưởng triết học.

Ở đây, chúng ta lấy tiếp cận, nghiên cứu chúng trên cơ sở tiếp cận của GS TS Nguyễn Tài Thư.

2. Việt Nam có triết học hay không?

Có nhiều quan niệm về triết học, triết học đề cập đến rất nhiều nội dung khác nhau, bàn đến những vấn đề lớn, khái quát từ nguồn gốc, bản chất của thế giới đến nguồn gốc, bản chất, vai trò của con người, bản chất của xã hội…

Nếu theo cách tiếp cận của Phương Tây, triết học là một khoa học lý luận chung được xây dựng trên cơ sở các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật với sự phân chia rạch ròi thành hai trường phái cơ bản là duy vật và duy tâm, với những nhà triết học nổi tiếng – tác giả của những tác phẩm chuyên khảo thì ở Việt Nam đúng là không có triết học.

Tuy nhiên, như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, đối tượng nghiên cứu triết học không chỉ là vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất mà xét rộng ra có thể thấy nó còn trả lời, kiến giải rất nhiều câu hỏi như nguồn gốc của thế giới là ở đâu? Bản chất của nó ra sao? Con người và cuộc sống con người có ý nghĩa như thế nào? Xã hội cần đạt tới là một xã hội ra sao? Bản chất của các quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội là gì? Và ngoài ra còn hàng loạt những vấn đề cụ thể hơn nữa.

Xét trên bình diện như trên có thể khẳng định: Việt Nam có tư tưởng triết học, tư tưởng này cần được nghiên cứu, trình bày, hệ thống hóa theo sự phát triển lịch sử. Nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam cần nghiên cứu những vấn đề như: tiền triết học, tư tưởng triết học, tư tưởng chính trị – xã hội gắn bó hữu cơ với triết học…

Nhìn ở phương diện lịch sử có thể thấy, Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời, là một trong những cái nôi của loài người. Nói như thế có nghĩa Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lâu đời, trong lịch sử đã đạt được nhiều thành tựu với một trình độ khá cao về văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần, có khả năng tư duy khái quát, biết đúc kết, rút ra được những cái chung từ trong tự nhiên, xã hội và con người, biết lấy quá khứ để đánh giá, chiếu rọi hiện tại và định hướng cho tương lai, tức là biết nhìn mọi vật, mọi việc trong vận động và phát triển không ngừng.

Việt Nam là một quốc gia nằm giữa các nền văn hóa lớn, là nơi sớm tiếp xúc, giao lưu, ảnh hưởng bởi các nền văn minh lớn thời cổ đai như Trung Hoa, Ấn Độ…Qua đó, sớm tiếp cận và ảnh hưởng bởi các hệ thống triết học lớn như Phật Giáo, Nho giáo, Lão giáo…Chính thông qua quá trình tiếp nhận đó, trên cơ sở thực tiễn lịch sử xã hội của mình mà các thế hệ cộng đồng người Việt đã biết biến những quan niệm, những nội dung của các hệ thống triết học bên ngoài thành cái của mình, biến tư duy kinh nghiệm thành lý luận nhằm phục vụ cho chính đời sống sinh tồn của cộng đồng mình. Như vậy, là đã làm quen và phần nào có tư duy triết học.

Mặt khác, lịch sử Việt Nam như một số nhà nghiên cứu đã từng khẳng định: Đó là một lịch sử không bình thường. Nguyên nhân của sự không bình thường đó trước hết là do luôn luôn phải tiến hành các cuộc kháng chiến để chống lại sự xâm lược, sự đồng hóa của các thế lực xâm lược lớn hơn mình nhiều lần. Sau những cuộc kháng chiến đó, dân tộc ta đã biết tổng kết, rút ra những bài học, những kinh nghiệm quý báu. Chính những tổng kết đó là điều kiện để nâng tư duy của mình từ kinh nghiệm thành lý luận.

Từ một số phân tích trên có thể thấy, mặc dù ở Việt Nam tuy chưa đạt tới trình độ triết học theo quan niệm của triết học phương Tây nhưng cộng đồng người Việt đã vượt qua giai đoạn tiền triết học, đã bàn đến nhiều nội dung của triết học với phương pháp tư duy, tiếp cận có tính khái quát chứ không hoàn toàn đơn thuần là những tư tưởng manh mún phân tán, chung chung. Và đó chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu của lịch sử tư tưởng Việt Nam.

Đi vào những vấn đề cụ thể ta có thể chia ra thành những mảng cơ bản như:

– Những tư tưởng xoay quan vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật chất, phương pháp tư duy biện chứng và siêu hình

Ở đây, có thể khẳng định, các nhà tư tưởng chưa đưa ra các khái niệm như “tư duy” – “tồn tại”, “tinh thần” – “vật chất”, “biện chứng” – “siêu hình” như trong các hệ thống triết học phương Tây nhưng đã bàn đến những nội dung này  với các phạm trù tương đương như: trời – người, hình – thần, tâm – vật, hữu – vô, lý – khí; tĩnh – động, thường – biến, pháp cổ, pháp tiên vương hay thuận lẽ trời, lòng người…

– Những tư tưởng xoay quanh vấn đề chính trị – xã hội

Trong chủ đề này, tập trung bàn nhiều đến đường lối trị nước, về trị – loạn, vua – dân, thành – bại, vua – tôi, về mô hình xã hội lý tưởng…

– Những nội dung bàn về vấn đề con người.

Ở chủ đề này, các nhà tư tưởng Việt Nam thường bàn nhiều đến các quan niệm về bản chất của con người, về đạo làm người, về giáo dục con người, về các chuẩn mực đạo đức của con người….

3. Một số vấn đề về phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở của phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, vận dụng vào nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cần lưu ý những vấn đề sau:

– Không thể trình bày lịch sử tư tưởng Việt Nam theo các chủ đề như bản thể luận, nhận thức luận, phân chia các nhà tư tưởng theo các trường phái duy vật, duy tâm. Làm như thế sẽ trở nên gượng ép và sai lạc, nghèo nàn nhiều nội dung tư tưởng của dân tộc. Có thể nên trình bày các vấn đề về triết học xã hội, về đường lối trị nước, về đạo trời, đạo người, về thế giới quan, nhân sinh quan…

– Không thể trình bày lịch sử tư tưởng như tư tưởng trong văn học hoặc tư tưởng trong thông sử mà phải tập trung xoay quanh những vấn đề có tính chất triết học, các phạm trù triết học. Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng Việt Nam có thể cần trình bày những khái niệm triết học, những nội dung có tính triết học trong lịch sử tư tưởng dân tộc như tâm – vật, trị – loạn, nhân nghĩa, trời – người… Khi trinh bày các khái niệm triết học Việt Nam cần đặt trong sự so sánh với triết học Ấn Độ, Trung Quốc để làm rõ sự tiếp thu, phát triển, sự khác biệt với các hệ thống triết học của các nền triết học lớn đó.

– Đặc điểm của tư tưởng triết học Việt Nam là không có các tác phẩm triết học chuyên khảo, hầu hết các nhà tư tưởng trình bày các tư tưởng của mình thông các các tác phẩm văn học, các tác phẩm chính luận như: văn, thơ, phú, cáo, kệ, lục, luận, biểu…Ngoài ra trong dòng triết học bình dân, các tư tưởng triết lý còn được thể hiện trong các loại như hò, vè, ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, tiếu lâm, phong dao…Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cần phải làm rõ được những triết lý ẩn giấu đằng sau các thể loại phong phú, đa dạng đó.

– Một điểm đáng lưu ý đó chính là phân kỳ lịch sử. Có thể nói có nhiều cách để phân kỳ lịch sử như phân kỳ theo nền văn minh, phân kỳ theo hình thái kinh tế – xã hội, phân kỳ theo các triều đại hoặc theo các sự kiện chính trị – xã hội. Có thể nói với đặc thù của lịch sử Việt Nam người nghiên cứu nên kết hợp cách phân kỳ theo hình thái kinh tế – xã hội với với các mốc sự kiện chính trị – xã hội lớn trong lịch sử làm cơ sở cho việc nghiên cứu.

4. Đặc điểm lịch sử tư tưởng Việt Nam

1. Tư tưởng triết học Việt Nam gắn với chủ nghĩa yêu nước, với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Tư tưởng chủ đạo của triết học Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, những vấn đề về chính trị, xã hội bao gồm hệ thống những quan điểm lý luận về dựng nước, đánh giặc giữ nước, dân giàu nước mạnh. Phạm trù “nước” xét trên bình diện triết học, là những cộng đồng người, là dân tộc, quốc gia. Do đó yêu nước trong tư tưởng triết học chính là ý thức trách nhiệm với giống nòi, với cộng đồng dân tộc được nêu lên thành lý luận. Tính đặc thù của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tinh thần đoàn kết, tinh thần bảo vệ bờ cõi lãnh thổ, bản sắc văn hoá dân tộc.

2. Tư tưởng triết học Việt Nam có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan (trong khi đó, triết học phương Tây đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan).

Triết học Việt Nam coi trọng những vấn đề về xã hội và nhân sinh, coi nhẹ những vấn đề về tự nhiên, tức là chú trọng xây dựng các vấn đề lý lẽ trong chính trị xã hội và luân lý, giáo dục đạo làm người. Trên cơ sở của những lý giải về nhân sinh đó mới đi vào đặt vấn đề quan niệm về thế giới.

Các chủ đề mà các nhà tư tưởng đặt ra chủ yếu là ở phương diện nhân sinh như quan hệ vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè, dân với nước, mẫu người quân tử, mô hình cai trị; những vấn đề về đạo lý làm người, bản tính con người, về giáo dục con người….

3. Vì đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan nên tư tưởng triết học Việt Nam phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh lên trình độ lý luận về nhân sinh và vũ trụ, nên thiếu tính hệ thống chặt chẽ, thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết du nhập từ bên ngoài.

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu về kinh tế và văn hóa, vì thế sớm tiếp thu các nền văn hóa tư tưởng lớn trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc…bị ảnh hưởng khá mạnh tư tưởng triết học của các nền triết học lớn đó. Do vậy, trong hệ thống tư tưởng triết học Việt Nam không theo một môtip, logic nào mà thường tiếp thu trên tinh thần thực tiễn xây dựng, củng cố và bảo vệ đất nước.

4. Vì đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan nên vấn đề cơ bản của triết học rất mờ nhạt: quan hệ giữa vật chất và ý thức, tư duy và tồn tại, tinh thần và giới tự nhiên không trải ra trên mọi vấn đề.

Tư tưởng triết học Việt Nam không phân chia thành trường phái, hoặc không thể phân chia theo các vấn đề: bản thể luận, nhận thức luận, nhân loại luận.

Hình thái đấu tranh giữa duy vật và duy tâm không phân tuyến, không trực diện, không rõ ràng mà thường thể hiện qua hình thái đấu tranh giữa khách quan và chủ quan, giữa vô thần và hữu thần, dân chủ và chuyên chế, độc lập và lệ thuộc, trong đó lực lượng tiến bộ thường đại diện cho các khuynh hướng khách quan, vô thần, dân chủ, độc lập. Còn lực lượng bảo thủ thì đại diện cho các khuynh hướng chủ quan, hữu thần, chuyên chế, lệ thuộc. Vì vậy trong tư tưởng triết học Việt Nam vẫn có tính đảng.

5. Tư tưởng triết học Việt Nam trên bình diện bác học hơi nghiêng về hướng nội, duy tâm, lấy trạng thái tinh thần để giải thích hiện tượng bên ngoài, còn trên bình diện dân gian lại mang màu sắc duy vật chất phác.

Suy nghĩ của người Việt thường gắn liền với một tín ngưỡng, một tôn giáo đa thần với các thần sông, thần núi v.v… từ đó đi tới thần thành hoá các nhân vật lịch sử, những người có công với làng, với nước.

Trong nhân dân, xuất phát từ vị trí xã hội, địa vị kinh tế thấp kém, bị các tầng lớp phong kiến bóc lột, áp bức. Tâm lý nói chung của nhân dân là phản kháng, chống áp bức, căm ghét bọn ăn bám, quan lại tham lam độc ác. Vì vậy, thông qua ca dao, tục ngữ, truyện cười nhằm đã kích, chê cười sự ngu dốt của các bộ phận ăn bám, quan tham…

6. Ở phương diện phương pháp luận, lối tư duy biện chứng trong triết học Việt Nam nghiêng về thống nhất (còn phương Tây hơi nghiêng về đấu tranh), quan niệm về vận động, phát triển của triết học Việt Nam theo vòng tròn (còn trong triết học phương Tây thì vận động, phát triển theo đường xoáy trôn ốc).

Để tải về, theo link này.

Để có link, anh vào mediafire.com để tải lên (upload)., Sau khi tải xong có địa chỉ, anh đưa vào bài viết, thì người ta (SV) có thể tải về được.