Chương 5

NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

I. Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam

Các nhà nghiên cứu về quá trình du nhập Nho giáo vào VN đều thống nhất một điểm là Nho giáo được du nhập vào nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc. Có thể chia quá trình du nhập đó thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất vào cuối thời Tây Hán, từ khoảng thế kỷ II TCN đến thế kỷ I SCN. Giai đoạn này Nho giáo đã được các quan lại và trí thức Hán du nhập vào nước ta, nhưng chưa có nhiều tài liệu nói về việc du nhập Nho giáo vào VN trong thời kỳ này. Sử cũ cho biết, ở thế kỷ I có Trương Trọng (người Giao Chỉ) chăm học, ứng đáp giỏi được cử làm Kế Lại ở Nhật Nam và sau được cử làm Thái thú quận Kim Thành (TQ). Ở thế kỷ II có Lý Tiến (người Giao Chỉ), thông hiểu kinh truyện, được bổ giữ chức Công Tào ở quận, rồi Hăng Kỵ Đô uý, Thái thú quận Linh Lăng (Trung Quốc) và đến khoảng năm 184-189 được cử giữ chức Thứ sử Giao Châu. Những thông tin này chứng tỏ Nho giáo phải được du nhập vào nước ta từ thời Tây Hán, chí ít là từ khi Âu Lạc cùng với Nam Việt được sát nhập vào nhà Hán năm 111 TCN. Sử Trung Quốc cũng ghi lại rằng, vào đầu công nguyên, hai Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân là Tích Quang và Nhâm Diên đã “dựng học hiệu dạy lễ nghĩa” ở Giao Châu. Tuy nhiên, giai đoạn này việc du nhập Nho giáo vào nước ta vẫn chưa được tiến hành một cách bài bản, kết quả chưa cao.

Giai đoạn thứ hai, khoảng từ thế kỷ II đến thế kỷ V.Thời kỳ này Nho giáo được truyền vào VN thông qua tầng lớp quan lại Hán và các Nho sĩ chạy xuống Giao Châu để lánh nạn. Qúa trình truyền bá Nho giáo được đẩy mạnh từ khi Sĩ Nhiếp được cử làm Thái thú Giao Chỉ. Sĩ Nhiếp đã cho mở trường dạy chữ Hán và Nho giáo. Nhiều sĩ phu TQ đến nương nhờ Sĩ Nhiếp cũng tích cực mở trường dạy học. Do đó, kể từ giai đoạn này, việc học Nho ở nước ta mới tương đối phổ biến. Sĩ Nhiếp vì thế được người Giao Châu tôn là “Nam Giao học tổ”. Sự truyền bá Nho giáo thời kỳ này chủ yếu ở mặt lễ nghĩa và giáo dục. Đặc biệt, từ thế kỷ III đến thế kỷ V, chế độ sĩ tộc thịnh hành ở Trung Quốc, tôn ti trật tự đựơc đề cao, do đó, ở Việt Nam lễ giáo cũng được coi trọng. Thế kỷ  III có Lý Cầm và Bốc Long, đỗ hiếu liêm và mậu tài đã được cử làm quan ở Trung Quốc. Tuy nhiên, Giai đoạn này Nho giáo đã gặp phải sự chống đối khá quyết liệt của người Việt, tiêu biểu là 5 cuộc tranh luận lớn giữa Nho và Phật ở giai đoạn này.

Giai đoạn thứ ba, từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX. Nhà Đường mở khoa thi Nho học và cho phép sĩ tử người Việt tham gia dự thi, chủ trương này càng khuyến khích việc học Nho ở nước ta. Thế kỷ VII có hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, người quận Cửu Chân đều đỗ Tiến sĩ, và được bổ làm quan to ở Trung Quốc. Sĩ tử người Việt dư thi đông đến mức nhà Đường phải đưa ra quy định hạn chế số lượng sĩ tử người An Nam: dự thi Tiến sĩ không được quá 8 người, thi Minh kinh không được quá 10 người. Tuy nhiên, có nhiều người Việt theo học Nho giáo nhưng không tham gia dự thi, hoặc dự thi đỗ đạt nhưng không chịu làm quan cho phương Bắc mà tích cực gia nhập hàng ngũ khởi nghĩa chống Bắc thuộc.

Nhìn chung, trong suốt thời Bắc thuộc, Nho giáo đã được giới quan lại, sĩ phu người Hán ra sức truyền bá vào Việt Nam nhưng hiệu quả chưa cao. Nho giáo vẫn còn chiếm một vị trí khá khiêm tốn so với Phật giáo vì:

- Nho giáo là hệ tư tưởng của những kẻ xâm lược, nó theo chân và dọn đường cho kẻ xâm lăng, nó là vũ khí được kẻ thù sử dụng để đồng hoá người Việt…vì thế người Việt đã cảnh giác và không mấy mặn mà trong việc đón nhận Nho giáo.

- Những quan niệm của Nho giáo như lễ, chính danh, …tỏ ra xa lạ với văn hoá Việt, trong khi người Việt vốn đã tìm được những nét tương đồng từ Phật giáo. Hơn nữa, phương thức truyền bá Nho giáo không diễn ra một cách hoà bình như phương thức truyền bá Phật giáo.

- Để tiếp thu được các nội dung, tư tưởng Nho giáo cần có một trình độ văn hóa, nhận thức nhất định và phải biết chữ Hán, trong khi tầng lớp bình dân lại không có điều kiện để học tập.

Những lí do này lí giải vì sao Phật giáo được người Việt đón nhận một cách nồng nhiệt còn Nho giáo thì được tiếp đón một cách “lạnh lùng” với thái độ đầy cảnh giác của người Việt. Và cũng lí giải vì sao phải đến tận thế kỷ XV Nho giáo mới tìm được chỗ đứng xứng đáng trên thượng tầng kiến trúc của xã hội Việt Nam.

II. Ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

- Trong thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo được tích cực truyền bá vào Việt Nam song Nho giáo vẫn chưa có ảnh hưởng đáng kể trong đời sống tinh thần của đại bộ phận nhân dân. Thời kỳ này, Nho giáo chủ yếu được giới quan lại, sĩ phu Hán, con cháu người Hán và những người Việt làm việc cho chính quyền đô hộ tiếp thu và sử dụng. Ngoài ra, Nho giáo còn được một số con em gia đình người Việt khá giả theo học. Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam trong hàng ngàn năm Bắc thuộc, chủ yếu là Hán nho. Nhìn chung ảnh hưởng của Nho giáo thời kỳ này còn khiêm tốn và hạn chế.

- Bước sang thế kỷ X, sau khi đất nước dành được độc lập, các triều đại đầu tiên Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, không theo đạo Nho mà theo đạo Phật.. Nho giáo chưa phát triển đáng kể. Thời kỳ này chưa xuất hiện những bài chính luận dựa trên cơ sở Nho học và cũng chưa ra đời nền giáo dục khoa cử Nho học ở nước ta.

- Đến thời Lý, do yêu cầu củng cố nhà nước tập quyền và trật tự xã hội phong kiến, tư tưởng Nho học đã được các nhà chính trị ở nước ta vận dụng, biểu hiện đầu tiên là tư tưởng Thiên mệnh (ý trời) trong Chiếu dời đô (1010) và (sách trời) trong bài Nam quốc sơn hà. Ngoài ra, các khái niệm cơ bản của Nho giáo như trung, hiếu, nhân, nghĩa…cũng từng bước được vận dụng. Ảnh hưởng của Nho giáo càng mạnh hơn khi nhà Lý lập Văn Miếu (1070) thờ Khổng Tử, phụ thờ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư (Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử), Mạnh Tử là 4 học trò nổi tiếng của Khổng Tử cùng 72 người học trò giỏi khác của Khổng Tử, định ra nghi lễ bốn mùa cúng tế; dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) tổ chức thi Minh kinh và Nho học tam trường (1075), mở trường Quốc tử giám (1076) để đào tạo Nho sĩ, giới nghiên cứu Nho học ở nước ta mới ngày một ra đời và lớn mạnh. Những sự việc này trở thành cái mốc quan trọng đánh dấu một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử đối với vai trò của Nho giáo trong đời sống văn hóa, giáo dục ở Việt Nam

Có thể nói, ở thời Lý Nho giáo đã giành được một chỗ đứng nhất định trong tư tưởng chính trị-xã hội lúc bấy giờ là vì nó cung cấp được cho nhà cầm quyền một hệ thống lý luận và cả những bài học kinh nghiệm trong việc trị nước.

Sang thời Trần, ảnh hưởng của Nho giáo càng mạnh mẽ và sâu sắc. Chính Trần Thái Tông  – ông vua mở đầu triều Trần, đồng thời cũng là nhà thiền học nổi tiếng đã phải thừa nhận vai trò và ảnh hưởng của Nho giáo. Thời kỳ này, giáo dục và khoa cử Nho học được mở rộng, một tầng lớp Nho sĩ dần dần lớn mạnh và tích cực tham gia các hoạt động chính trị, phấn đấu cho lý tưởng tu, tề, trị, bình, hướng nhà vua theo con đường nhân chính và đức trị. Họ đem lại cho sinh hoạt tư tưởng văn hoá của nước nhà một không khí học thuật sôi nổi. Nhiều nhà nho tiêu biểu như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát…Trong thời kỳ này, các nhà nho đã ra sức công kích Phật giáo.

Đến thời Hồ, Hồ Quý Ly đã tiếp thu Nho giáo một cách có phê phán.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, có thể khẳng định Hồ Quý Ly đã thể hiện tư tưởng của mình về Nho giáo bằng việc viết sách Minh Đạo gồm 14 thiên; soạn Quốc ngữ Thi nghĩa và dịch thiên Vô dật trong Thượng thư ra quốc ngữ. Ngày nay, tất cả các tài liệu nói trên đều đã thất truyền. Ngoài ra, Hồ Quý Ly còn có một số hoạt động thực tế thể hiện quan điểm và thái độ của ông đối với Nho giáo. Trong sách Minh đạo, ông đã đánh giá lại Khổng Tử, hoài nghi một số điểm trong Luận ngữ và phê phán Tống Nho. Hồ Quý Ly phê phán Trình Hiệu (1032-1085), Trình Di (1033-1107), Chu Hy (1130-1200) là những người “đạo văn”. Nhìn chung, Hồ Quý Ly là người đề cao Nho giáo, có nhiều chính sách khuyến khích Nho học.

Thời thuộc Minh: Năm 1406, đế quốc Minh đem quân xâm lược Việt Nam. Năm 1407, cuộc kháng chiến của triều Hồ thất bại. Nhà Minh đổi nước Việt thành quận Giao Chỉ, rồi chia ra phủ, vệ, thiết lập bộ máy cai trị và tiến hành đồng hóa mạnh mẽ.

Nhằm Hán hóa Việt Nam về văn hóa, tư tưởng, nhà Minh cho lập Văn miếu thờ Khổng Tử ở các phủ, châu, huyện trên toàn quốc và bắt các địa phương xây nhiều đền miếu thờ cúng, cầu đảo theo nghi lễ Trung Quốc. Đạo sĩ thầy cúng được khuyến khích hành nghề khắp nơi.

Để đào tạo ra những người biết chữ phục vụ bộ máy thống trị của nhà Minh tại Việt Nam, nhà Minh cho mở trường ở các phủ, châu, huyện. Mở trường dạy học nhưng không có thi cử. Giảng dạy tại các trường học ở phủ, châu, huyện, chủ yếu là thầy cúng, thầy bói, đạo sĩ được nhà Minh tuyển dụng, phong làm Giáo quan. Hàng năm, quan lại đô hộ Minh chỉ lựa chọn lấy một số học sinh đủ “tiêu chuẩn” rồi sử dụng. Nội dung chương trình dạy và học hoàn toàn theo sách giáo khoa của nhà Minh, gồm có Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Trung dung, Đại học), Ngũ kinh (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu) và Tính lý đại toàn, tức là bộ sách do nhóm Hồ Quảng theo lệnh vua Minh soạn, gồm 70 quyển, thâu thái thuyết Tống Nho bàn về hơn 100 nhà, chia thành môn loại như lý khí, quỷ thần, tính lý, thánh hiền…Những sách vở này được chở từ Trung Quốc sang Việt Nam cấp phát cho các thôn, huyện.

Có thể nói, nhằm thực hiện chính sách đồng hóa thâm độc của mình, nhà Minh đã truyền bá Nho giáo theo tinh thần phục vụ cho việc cai trị nước ta, truyền bá đạo Nho ít hơn là cố tình gieo rắc những mê tín dị đoan, nơi nào cũng chú ý đến việc lập đền, dựng miếu, tế lễ, cầu đảo, đồng thời truy nã những nhà Nho yêu nước, những nhà Nho không hợp tác với chúng. Qua đó, có thể thấy, Nho giáo trong thời kỳ thuộc Minh thuộc loại nho gì rồi.

Sau khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà Lê sơ ra đời, trong 6 năm làm vua, Thái Tổ Lê Lợi không để lại ý kiến nào cụ thể về Nho giáo. Nhưng trong một tờ chiếu của vua Lê Thái Tông ban bố năm Giáp Dần (1434) nói về việc định khoa thi, đã viết: “Thái Tổ ta mới dựng nước, đầu tiên mở nhà học, lấy cỗ to tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng Đạo”.

Lê Thái Tông rồi Lê Nhân Tông cùng tiếp nối đi theo đường lối của Lê Thái Tổ là lấy Nho giáo làm đạo chính thống trong nước. Nho giáo thắng thế và chiếm giữ vai trò quốc giáo, tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến. Chế độ giáo dục và khoa cử tiếp tục được đề cao, cách thi và hệ thống học vị được hoàn chỉnh, một số định lệ mới được đặt ra như lệ xướng danh, lệ vinh quy, khắc bia Tiến sĩ ở Văn Miếu (Tấm bia tiến sĩ đầu tiên được dựng năm 1484 đời vua Lê Thánh Tông, ghi lại lịch sử khoa thi năm 1442. Tấm bia cuối cùng được dựng vào năm 1780 cho khoa thi tổ chức vào năm 1779). [Trong 38 năm trị vì đất nước, Lê Thánh Tông đã cho tổ chức thi Hội theo lệ định 3 năm một lần, tổng cộng 12 khoa, có 500 người đỗ Tiến sĩ, trong số đó có 9 Trạng nguyên. Dưới thời Lê Thánh Tông, khoa thi Hội đầu tiên là khoa Quý Mùi (1463) có tới 4.400 nho sĩ dự thi - con số lớn chưa từng thấy trong lịch sử khoa cử ở Việt Nam trước đây và kết quả có 44 người đỗ Tiến sĩ, trong đó có 3 vị được ban cờ Tam khôi là Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh, Thám hoa Quách Đình Bảo]

Vua Lê Thánh Tông còn cho ban hành “24 điều giáo huấn” trong nhân dân để củng cố quan hệ Nho giáo trong gia đình, tông tộc, xóm thôn. Tư tưởng Nho giáo đã thấm nhuần trong tầng lớp trí thức và quan lại, ăn sâu vào đời sống chính trị – xã hội quốc gia. Những nhà nho tiêu biểu thời kỳ này là Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Thân Nhân Trung…Trong đó, Nguyễn Trãi là người đặt cơ sở cho xu hướng Nho giáo thực tiễn, đặt niềm tin ở dân tộc, lấy con người, lấy nhân dân làm gốc.

Thế kỷ XVII, XVIII xã hội trở nên loạn lạc, giai cấp thống trị nhà Lê suy thoái, sự tranh giành quyền lực diễn ra liên tục đã dẫn đến một thời kỳ suy thoái kéo dài của Nho giáo. Điểm nổi bật ở thời kỳ này là sự kết hợp giữa Nho giáo với Đạo giáo và Phật giáo. Hiện tượng “tam giáo đồng nguyên” trên nền tảng của Nho giáo là xu hướng lớn của giai đoạn này. Những nhà nho nổi tiếng ở thời kỳ này là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Bùi Huy Bích…

Bước sang thế kỷ XIX, triều Nguyễn được thành lập, tình trạng nội chiến kết thúc. Cùng với việc khôi phục lại chế độ phong kiến trung ương tập quyền, nhà Nguyễn ra sức đề cao Nho giáo, chấn hưng Nho học, chấn chỉnh nền giáo dục, khoa cử Nho học. Minh Mệnh đã ban hành “10 điều huấn dụ” trong nhân dân. Nho giáo thời Nguyễn chịu ảnh hưởng của Tống Nho, Hán Nho và Đường Nho.

Thuộc khuynh hướng Hán Nho có các nhà nho tiêu biểu như: Phan Huy Chú, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ…

Thuộc khuynh hướng Đường Nho có: Đặng Xuân Bảng, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Du, Vũ Tông Phan, Nguyễn Tư Giản…

Trong đó khuynh hướng Tống Nho có vai trò mạnh nhất, tập hợp những nhà khoa bảng lớn như Hà Tông Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trọng Hợp, Trần Bích San…Ngoài ra, còn có những nhà nho thuộc hoàng tộc như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,…Họ chủ trương tuyệt đối hoá chế độ quân chủ chuyên chế, say sưa cổ vũ cho “giềng mối chính thống”.

Nho giáo đã được nhà Nguyễn đẩy đến mức cực đoan, giáo điều, tính bảo thủ của Nho giáo cũng ngày càng bộc lộ, trước những thách thức đặt ra của lịch sử, Nho giáo ngày càng tỏ ra lạc hậu và bất lực.

Cùng với quá trình xâm lược của thực dân Pháp, Nho giáo từng bước suy tàn. Năm 1919, thực dân Pháp quyết định bãi bỏ nền giáo dục và khoa cử Nho học. Nho học vì thế dần bị quên lãng. Tuy nhiên, trong dân gian, những tư tưởng đạo đức, luân lí của Nho giáo vẫn ít nhiều ảnh hưởng trên nhiều phương diện, nhất là trong các mối quan hệ ứng xử, đến nay nhiều giá trị tích cực của Nho giáo vẫn được gìn giữ trong nhân dân, thể hiện sức sống mãnh liệt của học thuyết tư tưởng này

About these ads